Từ
xa xưa, ở dân tộc Thái, con trai con gái đến tuổi thành niên được chủ động tìm
chọn bạn đời của mình. Dù sự chủ động này chỉ là tương đối nhưng tục lệ cho
phép tình yêu chính đáng được công khai, khác những nơi lễ giáo phong kiến còn
quá nặng nề.
Ngày ngày cô gái Thái nếu không đi làm nương làm ruộng thì ở nhà dệt vải. Khung
cửu thường đặt bên cửa sổ nhà sàn, gần bếp lửa. Rồi những "hồi kịch trữ
tình" thường diễn ra ở đây, có trình tự và rất có vǎn hoá. Thử tài, thử
đức, hiểu tính, hiểu tình nhau cũng chỗ này.
Mỗi buổi tối, các chàng trai thường rủ nhau đi chơi quanh bản mang những chiếc
khèn bè, đến diễn tấu dưới cửa sổ nhà sàn các cô gái. Có những chiếc đàn môi
thủ thỉ suốt đêm, quên giấc ngủ.
Qua thời kỳ tìm hiểu, chàng trai nào chọn được bạn tình của mình rồi thì về nhà
thưa với bố mẹ mình để lo chuyện hôn nhân. Theo tục lệ cũ, nghi thức gồm nhiều
bước. Thoạt tiên nhà trai cử người đến thǎm nhà gái để ướm lời xem có thuận
chiều không. Nếu nhà gái tỏ ý thuận thì nhà trai nhờ bà mối đem trầu cau đến
chính thức ngỏ lời. Nếu nhà gái nhận trầu cau thì nhà trai nhờ ông Mo (người
phụ trách mọi nghi lễ trong bản mường) mang lễ vật sang ǎn hỏi. Lễ vật ǎn hỏi
gồm hai con gà trống tơ, một con trắng, một con đỏ, nǎm chai rượu. Việc gả
chồng cho con gái, ý kiến của con gái được bố mẹ coi trọng đặc biệt, khác với
cái nếp "cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy" ở người Kinh xưa. Nhận lễ ǎn
hỏi rồi, nhà gái hẹn ngày lành, tháng tốt cho chàng trai đến ở rể. Đến lần đầu,
anh chàng chỉ được phép mang theo một con dao để làm việc. Lúc này chưa được
làm chàng rể chính thức, anh ta chỉ được phép nằm ở gian đầu nhà sàn dành cho
khách nam giới. Sau ba tháng "thử thách", nếu được bố mẹ vợ tương lai
ưng ý anh ta mới được đem chǎn đệm của nhà mình đến, và vẫn nằm gian đầu nhà.
Từ đấy, anh phải đảm đương mọi việc trong gia đình nhà vợ. Cứ thế trong ba nǎm
trời. Hết hạn đó xem chừng "đạt yêu cầu", nhà gái mới cho chính thức
làm lễ thành hôn. Trước khi làm lễ, nhà trai phải đem trầu, rượu, vòng tay, hoa
tai, trâm cài đầu và một đôi độn tóc giả để cô dâu làm lễ búi tóc lên giữa đỉnh
đầu. Búi tóc giữa đỉnh đầu là dấu hiệu người đàn bà đã có chồng. Khi bị ép
duyên, cô gái phản kháng bằng cách cắt trụi tóc mình giữa lúc làm lễ "tẳng
cẩu" (búi tó lên giữa đỉnh đầu). Sau nghi lễ quan trọng này, nhà gái dành
cho đôi vợ chồng mới một phòng hoặc một gian riêng ở nhà sàn, có chǎn màn, gối,
đệm mới nguyên. Người chồng tiếp tục ở nhà vợ, cùng nhau làm ǎn, sinh con đẻ
cái. Từ một nǎm đến tám nǎm - có khi mười nǎm - sau lễ thành hôn ở nhà vợ người
chồng mới được phép đưa vợ về nhà bố mẹ mình sau một nghi lễ đưa dâu long
trọng. Bố mẹ vợ cho đôi vợ chồng đủ các thứ cần dùng trong một gia đình như nồi
đồ xôi, chǎn đệm, gia súc, các hạt giống... Về nhà chồng, nàng dâu chuẩn bị: một
tấm áo khoác thật đẹp biếu mẹ chồng, một bộ quần áo thật đẹp biếu bố chồng
những tấm khǎn piêu (khǎn đội đầu) biếu cô bác bên nhà chồng những chiếc khǎn
mặt bằng vải Thái để biếu những người dự tiệc Các quà biếu đó vừa để bày tỏ
tình cảm của nàng dâu mới đối với nhà chồng, vừa tự giới thiệu nếp đảm đang,
tài khéo léo của nàng. Người con gái về nhà chồng nếu chǎm chỉ và nết na thì
sống tự do thoải mái hơn người con trai rể nhà vợ. Có lẽ đó cũng là một tàn dư
của chế độ mẫu hệ chǎng?