Đình hình chữ "công", khi người ta làm thêm gian nối hậu cung với tòa bái đường (đại đình).
Tòa bái đường dài 20m, rộng 14m, gồm bảy gian chính, hai gian phụ, trên nền cao có bậc thềm bó đá tảng xanh, từ nền lên tới bờ nóc cao 8m. Bốn mái đình lợp ngói mũi hài lớn, vươn ra trùm lên hè, che mưa gió. Mái rộng chiếm hai phần ba chiều cao, nhưng trông vẫn thanh thoát vì các đầu đao uốn cong. Đỡ bộ mái là sáu hàng cột ngang và mười hàng cột dọc, đường kính cột lớn 0,65m, cột nhỏ 0,55m, bằng gỗ lim kê trên các tảng đá xanh, và bộ khung bằng gỗ lim được chạm trổ tinh vi như rồng, phượng, tùng, mai, trúc, bầu rượu, thanh gươm. Rồng chiếm một số lượng lớn, khoảng hơn 500 hình.
Bốn mặt bái đường đều lắp khung lùa, cánh cửa bức bàn. Gian giữa bái đường lát gạch lá nem, các gian bên là sàn gỗ cao hơn nền gian giữa 0,70m.
Bức cửa võng và tấm trần che ở gian giữa chạm trổ tinh vi với các hình chữ triện, chữ công, hoa lá, tứ linh, tứ quý, bát bửu, nổi bật là bức chạm nổi "Bát mã quần phi" trên ván nong, phía dưới bao lơn của hàng cột cái và cột con, với các dáng điệu rất sống động như : ngựa phi, ngựa nô giỡn, cọ lưng, liếm chân, gặm cỏ, uống nước..., mây bay, sóng lượn nhấp nhô..., những hình chim phượng, nghê, hươu...
Đình thờ các vị thành hoàng : Cao Sơn Đại vương (thần Núi), Thủy Bá Đại vương (thần Nước) và Bách Lệ Đại vương (thần Đất) và thờ sáu vị có công lập lại làng vào thế kỷ XV.
Lễ hội mở vào ngày 12 tháng 2 âm lịch hằng năm. Trong ngày hội có hát quan họ trên hồ, đánh cờ, đánh vật, đu bay, chọi gà... trước cửa đình.