Kiến trúc đình theo kiểu chữ "công", gồm bảy gian, toà đại bái và hậu cung, diện tích đình 405m2. Có 48 cột gỗ lim. Cột cái cao 4,65m, chu vi 1,5m, do các hiệp thợ ở Thanh Hoá dựng.
Nóc đình hơi võng, bốn đầu đao uốn cong, các đầu bẩy đỡ mái hiên được chạm hình đầu rồng. Sàn đình cao 0,40m.
Trong đình có hàng chục bức chạm trổ sinh động, nhiều câu đối, hoành phi sơn son thiếp vàng.
Các bức cửa võng được chạm bức chạm trổ hình các tiên nữ cưỡi rồng bay trong mây, dưới là sóng biển nhấp nhô, phần trên là hình rồng chầu mặt trời.
Ngoài hình các con vật tứ linh như long, ly, quy, phượng, còn có hình hươu chân cao, cổ dài, có sừng và cộc đuôi đang chạy, có con đang đứng quay đầu mồm ngậm hoa cúc.
Đáng chú ý là những mảng chạm mô tả sinh hoạt của con người như người cưỡi voi, cưỡi sư tử, cưỡi ngựa.
Hậu cung rộng khoảng 72m2. Trong hậu cung có bức chạm bông sen nở ở giữa dải hoa văn ô vuông, trước hậu cung có tấm y môn bằng lụa điều thêu rồng, phượng.
Đình thờ sáu vị thành hoàng và thờ Quận He Nguyễn Hữu Cầu, một lãnh tụ nông dân thời Lê. Các vị thành hoàng là người quê gốc ở Đồ Sơn ra lập làng ở Trà Cổ.
Hội làng từ 30 tháng 5 đến 6 tháng âm lịch. Đặc biệt có thi làm cỗ, nấu ăn.