Tên tự gọi: Xinh Mun
Tên gọi khác: Puộc, Xá, Pnạ
Nhóm địa phương: Xinh, Mun Dạ, Xinh Mun Nghẹt.
Dân số: 10.890 người.
Ngôn ngữ: Thuộc nhóm ngôn ngữ
Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam Á). Người Xinh Mun giỏi tiếng Thái.
Lịch sử: Người Xinh Mun đã từng
sinh sống lâu đời ở miền Tây Bắc Việt Nam.
Hoạt động
sản xuất:
Họ chuyên trồng lúa trên nương, một số ít làm ruộng.
Ăn: Người Xinh Mun ăn cơm
nếp, cơm tẻ, thích gia vị cay, uống rượu cần, có tập quán ăn trầu, nhuộm răng
đen.
Mặc: Y phục của họ
giống người Thái.
Ở: Họ ở nhà sang. Nhà có
mái vòm hình mai rùa.
Phương tiện
vận chuyển: Phổ biến dùng gùi đeo trên trán.
Quan hệ xã
hội:
Gia đình nhỏ, phụ quyền là chủ yếu, nhưng những đại gia đình gồm ba thế hệ hay
các anh em trai đã có vợ vẫn sống chung trong một nhà còn tồn tại khá đậm nét.
Số lượng thành viên trong nhà khoảng 10-15 người, cũng có nhà lên tới 20-30
người.
Người Xinh Mun
có nhiều họ nhưng phổ biến nhất là hai họ: họ Vì và họ Lò.
Cưới xin: Phổ biến tục ở rể.
Trước đây con trai phải ở rể khoảng 8-12 năm hoặc ở rể suốt đời nếu bên vợ
không có con trai. Trong lễ cưới đi ở rể, cô dâu, chú rể phải đổi tên của mình
lấy một tên mới chung cho cả hai người. Tên chung này do bố mẹ vợ, ông cậu đặt
cho, đôi khi lại phải bói xin âm dương để tìm tên chung. Cô dâu búi tóc ngược
lên đỉnh đầu biểu hiện là người con gái đã có chồng. Ngay trong hôm cưới đi ở
rể, đôi vợ chồng mới cưới trở về nhà trai 2, 3 ngày rồi mới sang ở hẳn nhà gái
cho đến hết thời gian ở rể. Lễ cưới đưa dâu về nhà trai tổ chức sau khi hết thời
gain ở rể, lúc đó đôi vợ chồng đã có một hoặc vài con. Lễ lại mặt tổ chức sau
đó vài ngày, hay một năm.
Sinh đẻ: Phụ nữ có mang vẫn đi
nương, đi rừng cho đến tận ngày sinh. Sản phụ đẻ ngồi cạnh bếp nấu cơm, ngay
trong nhà. Mẹ chồng, chồng hay một bà già láng giềng đỡ đẻ. Cắt rốn bằng cách:
kéo rốn dài đến mắt cá chân đứa trẻ rồi buộc nút lại, từ đó lại kéo dài tiếp
một đoạn như thế nữa rồi mới cắt. Nhau đẻ đựng trong ống tre, treo lên cây cao
nơi có ít người qua lại. Trẻ gần một tuổi mới mời thầy cúng về, làm lễ đặt tên.
Nhà mới: Người Xinh Mun
có tập quán ai dựng nhà thì cả bản đến giúp nên nhà chỉ làm vài ngày là xong.
Họ thường làm nhà vào dịp sau vụ gặt và chọn đất dựng nhà bằng cách bói xem đất
dựng nhà bằng bói xem đất có hợp với các thành viên trong nhà không. Ngày nước
(các ngày 2, 6, 8, 9 trong tháng) thích hợp với việc làm nhà. Kiêng ngày hoả
tức các ngày 1 và 7. Ông cậu là người dựng cột chính, trên treo nhiều vật tượng
trưng cho sự phồng thực, đầy đủ của gia đình như bông lúa, con dao, cái thớt,
các vật biểu tượng âm, dương vật. Ông cậu cũng là người đốt ngọn lửa đầu tiên
trên bếp nấu cơm của căn nhà mới. Ngọn lửa ấy được giữ không tắt trong suốt đêm
đầu tiên.
Ma chay: Tiếng súng trong nhà
báo hiệu có người chết, cùng lúc đó người con trai ném ông đầu rau vào nơi thờ
cúng tổ tiên bày tỏ một sự giận giữ truyền thống. Mọi điều kiêng kỵ hàng ngày
của gia đình cũng như của người con rể nay được huỷ bỏ, người ta nấu cơm trên
bếp sưởi, đặt tai ninh theo chiều ngang nhà, con rể lo mọi việc cơm nước. Không
dùng quan tài gỗ mà chỉ bó cót. Chọn đất đào huyệt bằng cách ném trứng trên khu
vực định sẵn, trứng vỡ ở đâu thì huyệt được đặt ở đó. Nhà mồ được làm cẩn thận,
có đủ thứ cần thiết tượng trưng cho người chết. Người Xinh Mun không có tục cải
táng và tảo mộ.
Thờ cúng: Thờ cúng tổ tiên hai
đời, bố mẹ và ông bà. Biểu trưng cho nơi thờ tổ tiên là một chiếc xương hàm
lợn, ít trầu đựng trên nắp giỏ cơm, ống tre đựng nước. Cúng vào các dịp cơm
mới, đám cưới, nhà mới. Việc thờ cúng tổ tiên, tuỳ nơi, có thể chỉ do anh cả,
cũng có thể do các anh em trai cùng đảm nhiệm. Bố mẹ vợ được thờ riêng ở một
chiếc lán nhỏ, bên cạnh nhà, cơm nước cúng được nấu ở ngoài nhà. Lễ cúng bản
hàng năm rất được coi trọng.
Học: Trước đây, một số
người biết sử dụng chữ Thái, nay dùng chữ phổ thông.
Văn nghệ: Người Xinh Mun
thích hát và múa vào các dịp tết lễ, ngay trên nhà. Trai gái, nam nữ hát đối
với nhau rất tự nhiên.
--------------------------------
Bức tranh văn hoá các dân tộc Việt Nam, Nxb. Giáo dục - 1997, tr. 170